CHÀO MỪNG QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY THÁI BÌNH
Tin tổng hợp
Hoạt động ngành
Đề cương
Hướng dẫn
Tuyên truyền xây dựng nông thôn mới
Khoa học công nghệ môi trường
Giáo dục đào tạo
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Các vấn đề xã hội
Khoa giáo cơ sở
Đất và người Thái Bình
Tác giả-Tác phẩm
Văn bản chỉ đạo
Dư địa chí
Văn bản chỉ đạo
Hoạt động của báo cáo viên
Tư liệu
Kỹ năng-Nghiệp vụ
 
Số lượt truy cập:
 

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tỉnh Thái Bình học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; hướng tới kỷ niệm 50 năm Bác Hồ về thăm Thái Bình lần thứ 5 (31/12/1966 - 31/12/2016), Báo Thái Bình trân trọng giới thiệu loạt bài của tác giả Nguyễn Hồng Chuyên với tiêu đề: “Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tỉnh Thái Bình học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Bài 1: Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ

 

1. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ

 

Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã từng sống trong cảnh nước mất nhà tan, từng chứng kiến cảnh nhân dân bị áp bức, bóc lột nặng nề dưới chế độ hà khắc, bất chấp pháp luật của thực dân Pháp và chế độ phong kiến đương thời. Khi bôn ba nơi hải ngoại, tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm các nước phương Tây, ý tưởng về việc xây dựng một nhà nước kiểu mới do nhân dân làm chủ đã xuất hiện ở Người. Ngay từ năm 1919, khi đưa ra bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đòi thực dân Pháp phải thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; đòi phải có “đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra” trong Nghị viện Pháp. Sau này Người đã chuyển bản Yêu sách thành “Việt Nam yêu cầu ca”, trong đó có hai câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành/Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”1. Người đã thể hiện không chỉ mục tiêu về tự do, dân chủ cho nhân dân, mà còn chỉ ra phương tiện để đạt được tự do, dân chủ. Đó là cơ sở, nền tảng để sau này đất nước ta xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - Nhà nước luôn đề cao nền dân chủ và thực hành dân chủ. Bởi vậy, ngay khi có điều kiện thực hiện ý tưởng ấy, Người đã chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Tại Điều 1, Hiến pháp năm 1946, chúng ta đã trịnh trọng tuyên bố: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”2; chính thức ghi nhận quyền làm chủ của nhân dân trong pháp luật.

 

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ thể hiện ở tinh thần luôn luôn trọng dân, thân dân, đánh giá cao vai trò của nhân dân. Người cho rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”3; rằng: “Nước lấy dân làm gốc... gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”4. Là Chủ tịch nước nhưng Người chỉ nhận mình là đày tớ của nhân dân. Hồ Chí Minh đã trả lời một cách rất thật lòng trước các nhà báo nước ngoài: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui”5.

 

Từ sự tin tưởng vào sức mạnh trí tuệ tập thể của nhân dân nên Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi việc gì cũng phải hỏi ý kiến nhân dân, cùng dân chúng bàn bạc. “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên, tổ chức toàn dân ra thi hành”6, bởi Người cho rằng: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”7. Bản thân Người luôn là tấm gương trong việc gần gũi, trao đổi, trò chuyện thân mật với các tầng lớp nhân dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân.

 

Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về lo cho dân, quyết tâm chiến đấu để giải phóng con người và đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”8. Thấu hiểu nỗi cơ cực, lầm than của nhân dân thời thực dân, phong kiến nên ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công, dù còn bận rộn với biết bao công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất những công việc phải thực hiện ngay: “1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành”9; bởi lẽ, “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”10. Trong bản Di chúc trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh còn đề nghị miễn thuế nông nghiệp cho nông dân một năm, “để cho đồng bào hỉ hả, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất...”11.

 

2. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ

 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ hiểu một cách chung nhất là quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ: “Chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ”12; do đó, “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”13. Các cơ quan quyền lực nhà nước được sinh ra không phải là để cai trị nhân dân, mà đó phải là nơi thực hiện và thừa hành ý chí của nhân dân, tổ chức cho nhân dân thực hiện các quyền dân chủ theo những phương thức phù hợp, thông qua đó, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, nghĩa là thực hành dân chủ.

 

Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ quan điểm về dân chủ trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam là:

 

“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên14.

 

Sau khi giành được chính quyền, nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình bằng cách ủy quyền cho các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân do mình bầu ra: “Nhân dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, Ủy ban kháng chiến hành chính địa phương và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương. Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ văn hóa, không phân biệt nòi giống đều có quyền tham gia. Đó là một cách rất hợp lý để nhân dân thực hành quyền thống trị của mình”15; đồng thời “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”16.

 

Nhà nước của chúng ta do nhân dân lập ra và được nhân dân nuôi dưỡng. “Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân”17. Từ Chính phủ cho đến tất cả các cơ quan nhà nước khác đều phải dựa vào nhân dân, giữ mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân và chịu sự kiểm soát, giám sát của nhân dân. “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”18; “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”19. Bởi vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước phải dựa vào dân để sửa chính sách, sửa bộ máy, sửa cán bộ của mình. Muốn dựa vào dân thì phải tin vào sức mạnh của dân.

 

Theo Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và gắn liền với việc nhà nước phải làm tất cả để đem lại một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội”20. Nhân dân sử dụng Nhà nước như một công cụ để thực hiện lợi ích của mình. Đối với nhân dân, công cụ của nhà nước dân chủ mới (Chính phủ, công an, quân đội, pháp luật...) đều là để giữ gìn, phục vụ cho quyền và lợi ích của nhân dân. Hồ Chí Minh dạy: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung của dân, chứ không phải đề đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”21.

 

3. Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ ở Thái Bình trong giai đoạn hiện nay

 

Đặc điểm nổi bật, toát lên từ tư tưởng, đạo đức, phong cách, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ là tinh thần trọng dân, quý dân, thân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, hết lòng, hết sức chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần, hạnh phúc của nhân dân đi đôi với phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng đạo đức của Người về dân chủ và thực hành dân chủ, việc tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mở rộng quyền dân chủ, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và nhân dân, giữa nhân dân với Nhà nước... luôn được Đảng, Nhà nước ta dành sự quan tâm đặc biệt. Đảng ta khẳng định: “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”22. Điều đó khẳng định bản chất dân chủ thực sự của Nhà nước ta.

 

Trách nhiệm gắn bó với nhân dân trước hết thuộc về cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức - những người có bổn phận, nhiệm vụ phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với thắng lợi của cách mạng, khi Người thường nhắc câu “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Trách nhiệm gắn bó với nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là để phục vụ nhân dân, huy động sức mạnh của nhân dân trong giai đoạn hiện nay là để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Gắn bó với nhân dân, thực hành, phát huy quyền dân chủ của nhân dân còn là đạo lý của người cán bộ, công chức, bởi “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc” hàng ngày đều do nhân dân cung cấp; tiền lương chúng ta nhận, phương tiện chúng ta làm việc là từ tiền thuế của dân.

 

Bài học “có dân là có tất cả” không chỉ đúng trong những năm kháng chiến gian khổ, dựa vào dân để xây dựng phong trào trong đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền, mà ngày nay càng chứng minh sự đúng đắn của nó. Trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, nếu cán bộ, công chức không xuất phát từ lợi ích của dân, không thực hành quyền dân chủ của dân thì các chủ trương, chính sách mới sẽ không được dân thực hiện, không thể đi vào thực tiễn, chỉ nằm trên bàn giấy; các phong trào thi đua trở nên hình thức. Chỉ những người cán bộ, công chức hết lòng vì dân, bất cứ ở đâu, khi nào cũng được dân tôn vinh, kính trọng, tin yêu mới là những người hiểu rõ vai trò của dân chủ và thực hành dân chủ; bởi thực hành dân chủ theo lời dạy, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là để phát huy những sáng kiến, kinh nghiệm trong dân, huy động các nguồn lực phát triển trong các thành phần kinh tế, tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế. 

 

Ngày nay, trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức “vừa hồng vừa chuyên”, đặc biệt là cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đảng bộ, chính quyền các cấp sẽ không thể thành công nếu không dựa vào dân, phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Nội dung thực hành, phát huy dân chủ của nhân dân hiện nay bao gồm nhiều mặt, từ xây dựng chủ trương, đường lối, hoạch định chính sách, pháp luật cho đến tổ chức thực hiện. Quá trình đó đòi hỏi phải:

 

- Luôn luôn xuất phát từ lợi ích của đại đa số nhân dân để xây dựng đường lối, chính sách.

- Gần dân, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân để nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, yêu cầu của dân sinh, dân trí... để cùng dân bàn bạc, đưa ra phương hướng, biện pháp giải quyết.

- Cấp ủy, chính quyền các cấp phải có các biện pháp để thực hành dân chủ thực sự trong nhân dân, để nhân dân được tham gia, được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được quyết định theo đa số đối với những vấn đề liên quan tới lợi ích thiết thân của nhân dân ở cơ sở. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong xây dựng nông thôn mới, thực hiện cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trên cơ sở thực hiện tốt Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố sự đồng thuận, nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội, cộng đồng địa phương.

- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội ở địa phương, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, hạn chế tác hại của lợi ích nhóm, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả; xử lý triệt để, nghiêm minh, kịp thời đối với những cá nhân có hành vi tham ô, xâm hại đến lợi ích chính đáng của nhân dân.

- Tiếp tục thực hiện tốt các quy định trong sinh hoạt Đảng, lấy phiếu tín nhiệm, điều tra, thăm dò dư luận xã hội trong nhân dân, phục vụ cho công tác xây dựng Đảng hiện nay. Trong mối liên hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, các cấp ủy Đảng phải luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân thì mới có thể đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, được nhân dân tiếp nhận và tự giác thực hiện, từ đó huy động được nguồn nhân lực, vật lực của chính nhân dân. Dựa vào dân, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân cũng là nền tảng giúp Đảng ta tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Nguyễn Hồng Chuyên - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Các tin khác cùng chủ đề
 
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Thái Bình
Trụ sở: Số 76A - Lý Thường Kiệt - Thành Phố Thái Bình. Điện thoại: (0227)3731.008, Fax:(0227)3731.008 Email:
Giấy phép số 126/GP-TTĐT ngày 29/8/2013 của Cục QL Phát Thanh, Truyền Hình và Thông Tin Điện Tử - Bộ Thông Tin và Truyền Thông