CHÀO MỪNG QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY THÁI BÌNH
Tin tổng hợp
Hoạt động ngành
Đề cương
Hướng dẫn
Tuyên truyền xây dựng nông thôn mới
Khoa học công nghệ môi trường
Giáo dục đào tạo
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Các vấn đề xã hội
Khoa giáo cơ sở
Đất và người Thái Bình
Tác giả-Tác phẩm
Văn bản chỉ đạo
Dư địa chí
Văn bản chỉ đạo
Hoạt động của báo cáo viên
Tư liệu
Kỹ năng-Nghiệp vụ
 
Số lượt truy cập:
 

Khoa giáo - môi trường
Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2012 - 2015

   

TỈNH ỦY THÁI BÌNH

*

Số 02-KL/TU

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

   Thái Bình, ngày 02 tháng 3 năm 2012

 

KẾT LUẬN

CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ

về Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2012 - 2015

-----

 

I- TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1- Kết quả đạt được

Những năm qua, các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể trong tỉnh đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị (khoá IX) "về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường, đạt được những kết quả nhất định. Nhận thức của các cấp, các ngành và nhân dân về bảo vệ môi trường có chuyển biến tích cực. Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đã tập trung chỉ đạo, đầu tư và tổ chức thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường ở một số khu, cụm công nghiệp, đô thị, làng nghề, nông nghiệp và nông thôn. Công tác quản lý nhà nước về môi trường được chú trọng; tăng cường kiểm tra, giám sát ô nhiễm và chất lượng nguồn nước, không khí, đất đai…; xử lý có hiệu quả một số vấn đề bức xúc và điểm nóng về ô nhiễm môi trường; thực hiện tốt việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư. Tổ chức bộ máy bảo vệ môi trường ở các cấp từng bước được củng cố. Việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường được thực hiện khá tốt ở nhiều địa phương; phong trào vệ sinh môi trường, xây dựng nếp sống văn hoá được đẩy mạnh; huy động được sự đóng góp, tham gia bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư; nhiều mô hình tự quản bảo vệ môi trường được tổ chức và hoạt động có hiệu quả.

2- Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Hạn chế, yếu kém

Một số chỉ tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường chưa đạt yêu cầu đề ra. Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm, nhất là ô nhiễm do nước thải công nghiệp, làng nghề, đô thị, do rác thải sinh hoạt, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón. Việc xử lý ô nhiễm môi trường chậm được thực hiện; xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn thiếu chủ động, kiên quyết.

Trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ môi trường còn thiếu và lạc hậu. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực và trình độ chuyên môn. Việc quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường ở một số địa phương chưa đúng mục đích, hiệu quả thấp.

Ý thức bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị và một bộ phận nhân dân còn thấp. Nhiều dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh chấp hành chưa nghiêm việc đăng ký và cam kết bảo vệ môi trường.

b) Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

Việc ban hành cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn chậm, thiếu đồng bộ.

Một số cấp uỷ, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, ý nghĩa cấp bách và chiến lược lâu dài của công tác bảo vệ môi trường; còn biểu hiện  xem nhẹ nhiệm vụ, yêu cầu bảo vệ môi trường, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường. Công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường chưa sâu rộng. Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn yếu.

Nguồn vốn đầu tư và chi sự nghiệp bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu. Sự phối hợp giữa các sở, ngành, đoàn thể của tỉnh với các địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường còn thiếu chặt chẽ, thường xuyên.

II- PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

1- Phương hướng

Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội về bảo vệ môi trường; gắn chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội; đa dạng hoá các nguồn lực đầu tư, huy động sự tham gia của toàn xã hội bảo vệ môi trường. Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường; khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng; từng bước nâng cao chất lượng môi trường.

2- Mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2015:

- 100% cơ sở sản xuất mới xây dựng, 80% cơ sở sản xuất cũ có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường.

- Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn ở đô thị 100%, ở nông thôn 80%.

- 100% thị trấn có nhà máy xử lý rác thải bằng công nghệ hiện đại, 80% số xã có hệ thống xử lý rác thải tiên tiến.

- 70 xã trở lên đạt tiêu chí về bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới.

3- Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

3.1- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường

Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tiếp tục quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường; các chủ trương, cơ chế, chính sách, quy định của tỉnh về bảo vệ môi trường; nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi tổ chức, mỗi người dân, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội tham gia bảo vệ môi trường.

Đa dạng các hình thức thông tin, tuyên truyền; xây dựng và thường xuyên thực hiện các chương trình, chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng; kịp thời phản ánh những tập thể, cá nhân điển hình trong công tác bảo vệ môi trường; phê phán những tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, các hành vi gây ô nhiễm môi trường; đồng thời, giáo dục truyền thống yêu thiên nhiên, ý thức tự giác, trách nhiệm bảo vệ môi trường của các tổ chức và nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động truyền thông trực tiếp của đội ngũ cán bộ chuyên trách, báo cáo viên, tuyên truyền viên về môi trường ở các cấp, các ngành, đoàn thể và tổ chức xã hội. Quan tâm đầu tư trang thiết bị, phương tiện; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho cán bộ truyền thông các cấp, cán bộ trực tiếp làm công tác bảo vệ môi trường.

3.2- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng về công tác bảo vệ môi trường

Các cấp ủy đảng phải chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hằng năm, các chương trình, dự án đầu tư. Tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng tình hình môi trường và công tác bảo vệ môi trường; xây dựng và thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường. Tập trung chỉ đạo xử lý dứt điểm những nơi bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; chuyển các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nằm xen kẽ trong khu dân cư vào các khu sản xuất tập trung.

Chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể của tỉnh với các địa phương và các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ môi trường; xây dựng và áp dụng tiêu chí bảo vệ môi trường trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và thi đua khen thưởng.

3.3- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình, kế hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình giai đoạn 2012 - 2015 và định hướng đến năm 2020. Chỉ đạo rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn về bảo vệ môi trường phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tế của địa phương. Các dự án, công trình đầu tư xây dựng phải thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường; dự án đầu tư mới sản xuất công nghiệp phải hoàn thành đồng bộ công trình bảo vệ môi trường trước khi đưa vào hoạt động. Hoàn thiện cơ chế phân cấp và phối hợp liên ngành trong công tác bảo vệ môi trường.

Quy hoạch các trạm xử lý nước thải, rác thải tại các khu, cụm công nghiệp. Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường. Xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm soát ô nhiễm ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã; tập trung phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các nguồn gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; chú trọng các khu, cụm công nghiệp, làng nghề, khu đô thị, các sông nội thành, nội thị. Phục hồi, cải tạo kịp thời các điểm, khu vực bị ô nhiễm và suy thoái nặng; khắc phục hậu quả suy thoái môi trường do thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường; kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, lưu trữ, buôn bán phế thải, phế liệu; quản lý và xử lý chất thải nguy hại, hoạt động sản xuất, nhập khẩu, sử dụng hóa chất trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường và các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, nhất là các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định, đánh giá tác động môi trường và giám sát thực hiện cam kết bảo vệ môi trường đối với các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh; hoạt động kiểm soát ô nhiễm, thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải; công tác hướng dẫn quản lý, sử dụng các nguồn vốn ngân sách nhà nước và chương trình mục tiêu quốc gia. Thực hiện tốt điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và vùng cửa sông. Triển khai các đề án, dự án, kế hoạch phòng ngừa, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học, giữ gìn và tôn tạo cảnh quan môi trường.

Tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực của cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường từ tỉnh đến cơ sở; bổ sung cán bộ chuyên trách làm công tác môi trường cho cấp huyện, xã. Kiện toàn tổ chức chuyên môn hoặc cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường thuộc các sở, ngành, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có phát sinh chất thải. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường; tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công tác bảo vệ môi trường ở các cấp.

3.4- Huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư; đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường

Tập trung nguồn vốn ngân sách đầu tư hoặc hỗ trợ các chương trình, đề án, dự án phòng ngừa, cải thiện, xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu, cụm công nghiệp, đô thị, làng nghề, khu vực ô nhiễm, suy thoái môi trường nghiêm trọng. Từng bước đầu tư xây dựng các khu xử lý và thực hiện thu gom xử lý rác thải sinh hoạt tại các thị trấn và các xã, trước hết là xã điểm xây dựng nông thôn mới. Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước, các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, các tổ chức trong nước và quốc tế cho bảo vệ môi trường trong tỉnh.

Khuyến khích đầu tư xử lý, tái chế chất thải; phát triển các dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải và các dịch vụ khác bảo vệ môi trường.

Thực hiện có hiệu quả các chương trình phối hợp hoạt động bảo vệ môi trường giữa ngành Tài nguyên và Môi trường với các sở, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia bảo vệ môi trường. Phát động và thường xuyên thực hiện phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, gắn với xây dựng nếp sống văn hoá. Phát triển các mô hình cộng đồng dân cư tự quản bảo vệ môi trường; xây dựng lực lượng tình nguyện viên, cộng tác viên bảo vệ môi trường ở các địa phương, cơ quan, đơn vị. Xây dựng các tiêu chí, chuẩn mực về môi trường làm cơ sở để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường của từng cơ quan, xí nghiệp, gia đình, thôn làng, tổ dân phố. 

3.5- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động bảo vệ môi trường

Đa dạng hóa các hình thức bảo vệ môi trường bằng các công nghệ mới, tiên tiến phù hợp với từng loại hình cơ sở sản xuất, kinh doanh. Khuyến khích áp dụng công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo. Tổng kết, phổ biến các mô hình xử lý môi trường đã được nghiên cứu, ứng dụng và đang hoạt động có hiệu quả.

Nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và nhân rộng các mô hình xử lý môi trường mới phù hợp với từng lĩnh vực, loại hình sản xuất, kinh doanh, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương. Khuyến khích nông dân sử dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác bảo vệ môi trường.

III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Các cấp uỷ chỉ đạo quán triệt Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về bảo vệ môi trường trong các tổ chức đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và nhân dân; chỉ đạo chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch bảo vệ môi trường ở ngành, địa phương, đơn vị.

2- Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Kết luận của ban thường vụ Tỉnh uỷ về bảo vệ môi trường.

3- Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về bảo vệ môi trường.

4- Văn phòng Tỉnh uỷ, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp theo dõi việc thực hiện Kết luận này, báo cáo kết quả với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

 

     

           Nơi nhận:

- Ban Bí thư Trung ương Đảng (để báo cáo),

- Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh,

- Các huyện, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ,

- Các sở, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể của tỉnh,

- Các đồng chí Tỉnh uỷ viên,

- Lưu Văn phòng Tỉnh uỷ.

T/M BAN THƯỜNG VỤ

PHÓ BÍ THƯ

 

(Đã ký)

 

 

Nguyễn Hồng Diên

 

 

Ban tuyên giáo tỉnh ủy
 
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Thái Bình
Trụ sở: Số 76A - Lý Thường Kiệt - Thành Phố Thái Bình. Điện thoại: (0227)3731.008, Fax:(0227)3731.008 Email:
Giấy phép số 126/GP-TTĐT ngày 29/8/2013 của Cục QL Phát Thanh, Truyền Hình và Thông Tin Điện Tử - Bộ Thông Tin và Truyền Thông